KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, THỜI ĐẠI CỦA CHIẾN THẮNG 30 THÁNG 4

Năm nay, trong những ngày hướng đến kỷ niệm Chiến thắng lịch sử vĩ đại 30/4/1975, nhân dân ta đón mừng sự kiện này với nhiều niềm vui mới. Theo báo cáo của Chính phủ, kinh tế Việt Nam năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất, cung - cầu của nền kinh tế cùng song hành phát triển.

NHẬN DIỆN VÀ NGĂN NGỪA THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG LÒNG YÊU NƯỚC ĐỂ KÍCH ĐỘNG NGƯỜI DÂN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH, GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Người yêu nước chân chính là người biết sử dụng pháp luật, đạo đức, truyền thống tốt đẹp để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, đồng thời phải biết tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Nhận diện được phương thức, thủ đoạn lợi dụng lòng yêu nước để kích động nhân dân làm việc xấu chính là nhằm đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, đồng thời tránh được sự lợi dụng đó để gây ra rối loạn xã hội, phức tạp tình hình.

Thông cáo Báo chí Kỳ họp 32 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 03 đến 06/12/2018 tại Hà Nội, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 32. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

UBKTTW kết luận vụ AVG: Sai phạm của ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn là rất nghiêm trọng

UBKTTW vừa họp kỳ 26 kết luận vụ AVG có những vi phạm của Ban cán sự đảng Bộ TT-TT, ông Nguyễn Bắc Son, ông Trương Minh Tuấn, ông Phạm Đình Trọng, của Ban Thường vụ Đảng ủy Mobifone và các ông Lê Nam Trà, Cao Duy Hải là rất nghiêm trọng.

Bốn kỳ vọng thay đổi lớn về công tác cán bộ sau 4 ngày Hội nghị T.Ư 7

Sau 4 ngày làm việc, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó có công tác cán bộ, bởi đây là vấn đề “nóng” trong tình hình hiện nay.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

Kỷ luật đồng chí Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh

Ban Bí thư thi hành kỷ luật đồng chí Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai và đồng chí Hồ Văn Năm, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai
 Kỷ luật đồng chí Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh
Ngày 10/9/2019, tại Hà Nội, Ban Bí thư họp xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai và đồng chí Hồ Văn Năm, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai. Sau khi xem xét Tờ trình của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư đã kết luận:
1. Đồng chí Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng uỷ, Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai chịu trách nhiệm chính và trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng của Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2015 - 2020, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng và các quy định của Bộ Công an về công tác điều tra hình sự; để nhiều cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh vi phạm kỷ luật và pháp luật; vi phạm trong công tác cán bộ.
Trong thời gian giữ cương vị Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, Phó Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai, đồng chí cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm của Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2010 - 2015 trực tiếp phụ trách, để Phòng Cảnh sát giao thông (đồng chí trực tiếp phụ trách) xảy ra nhiều vi phạm kéo dài nhiều năm, có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Huỳnh Tiến Mạnh là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của ngành Công an và cá nhân đồng chí, gây bức xúc trong dư luận xã hội, cần phải thi thành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Huỳnh Tiến Mạnh bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính đối với đồng chí Huỳnh Tiến Mạnh tương ứng với kỷ luật đảng.
2. Đồng chí Hồ Văn Năm, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ Đồng Nai đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thực hiện không đúng nhiệm vụ, can thiệp trái quy định vào việc xử lý một số vụ án, vụ việc, vi phạm Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 07/7/2007 của Bộ Chính trị.
Trong thời gian giữ cương vị Bí thư Ban cán sự đảng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, đồng chí chịu trách nhiệm chính và trách nhiệm người đứng đầu về những vi phạm, khuyết điểm của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong chỉ đạo, xử lý nhiều vụ án, vụ việc không đúng quy định pháp luật.
Với cương vị Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội, đồng chí đã ký văn bản không đúng quy định của pháp luật có biểu hiện can thiệp vào hoạt động của cơ quan chức năng giải quyết vụ án hình sự.
Vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Hồ Văn Năm là nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai và cá nhân đồng chí, cần phải thi hành kỷ luật nghiêm minh theo quy định của Đảng.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Hồ Văn Năm bằng hình thức cách chức Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Đồng Nai nhiệm kỳ 2015 - 2020 và Trưởng Ban Nội chính Tỉnh uỷ Đồng Nai; đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét để đồng chí thôi làm đại biểu Quốc hội khoá XIV.

NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CÁC ĐỐI TƯỢNG TẬP TRUNG CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII

🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
Các thế lực thù địch thông qua các đối tượng xấu trong nước chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá, chuyển hóa về chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thực tế đã chứng minh, trước mỗi sự kiện quan trọng của đất nước, các hoạt động của các đối tượng lại được đẩy mạnh, lần này cũng không phải ngoại lệ. Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội liên tục đưa nhiều thông tin tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Tựu lại chúng tập trung vào một số vấn đề sau:
NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CÁC ĐỐI TƯỢNG TẬP TRUNG CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII
🎲 Về chính trị: Đây luôn là một mảnh đất màu mỡ mà các thế lực thù địch, phản động hướng tới, nhằm làm thay đổi, sai lệch quan điểm, đường lối chính trị của Đảng và chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với thủ đoạn, thổi phồng, bóp méo, khoét sâu những khuyết điểm, hạn chế về vài trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước và Chính phủ, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận các văn kiện trình Đại hội XIII…
🎲 Về tư tưởng: Chúng tập trung tung ra những luận điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu”, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự cộng lại giữa học thuyết của C.Mác và Nho giáo”, “con đường Bác Hồ chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội”. Và rằng, theo con đường đó sẽ là “sai lầm vô vọng”….
🎲 Về công tác cán bộ trước thềm đại hội: Trước Đại hội lần thứ XIII của Đảng, chúng sẽ lợi dụng việc lấy ý kiến đóng góp vào các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, để lôi kéo các phần tử chống đối, bất mãn với chế độ ký tên tập thể đòi yêu sách, gây sức ép, nhằm thay đổi những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng ta. Thủ đoạn nham hiểm này của chúng nhằm dụ dỗ, mua chuộc những cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất để làm công cụ xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng. Chúng tán phát các bài viết, lời kêu gọi có nội dung xuyên tạc, đả kích về công tác chuẩn bị Đại hội của Đảng. Các luận điệu chống phá thường tập trung vào bôi lem, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
✍️ Với thời đại công nghệ phát triển, mạng Internet được sử dụng rộng rãi các đối tượng lập các trang web, trang fanpage để tung những thông tin thêu dệt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những câu chuyện ly kỳ; các buổi “tọa đàm” với những ông “giáo sư”, “tiến sĩ giấy” tự phong bày đặt đưa ra các quan điểm bình luận, đánh giá về công tác nhân sự của Đảng và Nhà nước trong kỳ Đại hội sắp tới.
✍️ Âm mưu của các thế lực thù địch, đối tượng chống đối là rõ ràng, chúng tăng cường các hoạt động chống phá ta trước các kỳ đại hội Đảng hòng làm mất ổn định nội bộ trong hàng ngũ lãnh đạo, gieo giắc hoài nghi, ngờ vực lẫn nhau, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Với mong muốn tạo ra viễn cảnh tạo ta cuộc “cách mạng màu” nhằm chuyển hóa chế độ chính trị Việt Nam theo quỹ đạo phương Tây như “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia, “cách mạng màu da cam” ở Ucraina, “cách mạng Tuy-líp” ở Cưrơxtan…
✍️ Thủ đoạn, âm mưu của các đối tượng là rõ ràng. Mỗi người dân trong việc tiếp nhận các thông tin cần cảnh giác, tiếp thu có chọn lọc và cần có những phản hồi tích cực trong việc bài trừ, bóc mẽ các thông tin sai sự thật mà các đối tượng thêu dệt nên. Công cuộc bảo vệ sự bình yên của đất nước, chống lại sự chống phá của các thế lực là không của riêng ai. Do đó, mỗi người dân hãy là một chiến sĩ trước tiên bảo vệ mình cũng như bảo vệ sự bình yên của đất nước./.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2019

CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VEN BIỂN

👉 Trên thế giới ngày nay, các văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đã góp phần xây dựng ngày càng hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề cơ bản về biển và đảo; việc phân định biển, bảo vệ môi trường biển, khai thác tài nguyên biển, giải quyết các tranh chấp biển v.v...
CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VEN BIỂN
👉 Nếu tính từ đất liền của quốc gia ven biển hướng ra biển khơi, tuần tự có các vùng biển sau đây: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển quốc tế và đáy biển, lòng đất dưới đáy biển quốc tế. Rải rác ven bờ hay ngoài biển khơi có các đảo, quần đảo nhô lên trên mặt nước. Về nguyên tắc, nội thủy và lãnh hải là hai vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển. Vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa là ba vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển. Còn lại vùng biển cả xa xôi ngoài phạm vi ấy là biển tự do, không một quốc gia nào có quyền xác lập chủ quyền đối với bất cứ bộ phận nào của biển cả.
1️⃣ NỘI THỦY
“Nội thủy” (còn gọi “vùng nước nội địa) là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải (nói tắt là “đường cơ sở”) và giáp với bờ biển. Đường cơ sở này do quốc gia ven biển quy định vạch ra. Từ đó trở vào gọi là nội thủy, từ đó trở ra gọi là lãnh hải.
2️⃣ LÃNH HẢI
Lãnh hải là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.
Công ước quốc tế về Luật biển 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển là 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Điều 3 Công ước nêu rõ: “Mỗi quốc gia có quyền định chiều rộng của lãnh hải đến một giới hạn không quá 12 hải lý từ đường cơ sở được xác định phù hợp với công ước này”. Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định: “Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở”.
3️⃣ VÙNG TIẾP GIÁP LÃNH HẢI:
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải. Phạm vi của vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở. Điều 33, Công ước về Luật biển năm 1982 quy định: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải”. Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 cũng nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”.
4️⃣ VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ:
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý bên trong vùng đặc quyền kinh tế nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý. Vùng đặc quyền kinh tế bao gộp trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật biển 1982 quy định.
5️⃣ THỀM LỤC ĐỊA:
Thềm lục địa nói nôm na là cái nền của lục địa. Nó bắt đầu từ bờ biển, kéo dài thoai thoải ra khơi và ngập dưới nước, đến một chỗ sâu hẫng xuống thì hết thềm. Thực tế ở nơi nào bờ biển bằng phẳng thì vùng đáy biển này trải ra rất xa. Ở nơi nào bờ biển khúc khuỷu, vùng này co hẹp lại gần bờ hơn (như ven biển miền Trung Việt Nam từ bờ ra ngoài khoảng 50 km (hơn 26 hải lý) thì thụt sâu xuống hơn 1.000 m). Các nhà địa chất học gọi vùng đáy biển thoai thoải đó là thềm lục địa. Vùng đó kéo dài đến đâu thì thềm lục địa của nước đó ra đến đó; không kể độ sâu là bao nhiêu. Vì thềm lục địa là sự mở rộng tự nhiên của lục địa đất liền ra biển, là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ quốc gia ven biển, cho nên nó thuộc về quốc gia ven biển.
🔴 Như vậy thường thì thềm lục địa là phần đáy biển và lòng đất đáy biển nằm dưới nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia. Có khi thềm lục địa rộng ra đáy biển khơi (trường hợp thềm lục địa rộng hơn 200 hải lý)./.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

25 giờ nhai bèo cầm cự giữa biển khơi của 4 ngư dân Nghệ An trước khi được cứu

Một ngày một đêm lênh đênh trên biển, 4 ngư dân Nghệ An gần như không còn hy vọng sống sót. Họ nhai bèo tây để cầm cự.
Vào khoảng 9h sáng, tàu CN 09 thuộc đồn Biên phòng Cồn Cỏ (Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị) đã tìm thấy 4 ngư dân sau 1 ngày 1 đêm lênh đênh trên biển.
25 giờ nhai bèo cầm cự giữa biển khơi của 4 ngư dân Nghệ An trước khi được cứu
4 người gồm Phạm Huy Hoàng (trú thôn Thọ Thành, xã Quỳnh Thọ, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Trần Văn Cường, Ngô Văn Xô, Lê Văn Chiến (xã Sơn Hải, Quỳnh Lưu).
Trước đó, vào lúc 9h ngày 5/9, đồn Biên phòng cảng Gianh (Quảng Bình) nhận được điện thoại của ngư dân Nguyễn Văn Thắng, thuyền trưởng tàu NA 93010 TS báo có 7 ngư dân (cùng trú huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) bị chìm tại phao số 0 của cảng.
Tất cả đều bị rơi xuống biển sau khi tàu chìm.
Lực lượng biên phòng tỉnh Quảng Bình đã nhanh chóng điện báo phối hợp với lực lượng biên phòng nhiều nơi để tổ chức tìm kiếm.
Đến 14h cùng ngày, thuyền trưởng Thắng đã được tàu LP Harmony ở Hải Phòng cứu vớt cách cảng Gianh khoảng 10 hải lý về phía Đông.
2 thuyền viên còn lại đang mất tích gồm ông Đậu Ngọc Cầm (SN 1960), ông Trần Văn Thiện (SN 1967, đều trú xã Sơn Hải, Quỳnh Lưu). Trong đó ông Cầm được xác định đã t ử v.ong.
————-
25 GIỜ KINH HOÀNG TRÊN BIỂN
25 giờ nhai bèo cầm cự giữa biển khơi của 4 ngư dân Nghệ An trước khi được cứu
Đang nằm điều trị ở trạm xá biên phòng, anh Phạm Huy Hoàng cho hay, đến giờ anh chưa thể tin nổi rằng 4 anh em đã được cứu sống. Đi biển từ 10 năm nay, đây là lần đầu tiên anh gặp nạn lớn.
Anh kể, khi vừa ra đến phao số 0 của cảng Gianh thì sóng to đánh mạnh như muốn xé nát con tàu. Chỉ trong vài phút, con tàu bị đánh chìm.
Cả 4 ngư dân Hoàng, Cường, Xô và Chiến chỉ kịp bung phao nhảy khỏi tàu trước khi chiếc tàu bị lật úp.
Thuyền viên Trần Văn Cường nhớ lại, khi trôi dạt trên biển, 4 người cùng bám vào chiếc phao chỉ khoảng 1 mét vuông. Đói, rét, hai hàm răng của 4 ngư dân va vào nhau liên tục.
Sợ răng đập trúng lưỡi, 4 anh em vơ vội bèo tây trôi dạt trên biển nhai liên tục để cầm chừng, đến giờ cổ họng còn rát.
Rất may lẫn trong đám bèo tây có 4 hộp sữa nhỏ, dù đã hết hạn sử dụng nhưng cả nhóm ai nấy vui mừng, uống một hơi hết sạch.
Lênh đênh giữa biển khơi, đối mặt cái đói, rét càng làm tinh thần mọi người hoảng loạn, đặc biệt là ngư dân Ngô Xuân Xô bị ngất nhiều lần và chìm xuống biển, may mắn các thuyền viên khác phát hiện và kéo lên.
Khi thấy tàu CN 09 của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cách khoảng 3 hải lý đang tìm kiếm, cả nhóm nhanh chóng lấy thêm gỗ, củi, dùng dây thun quần cột lại kết thành bè, cho Cường đứng lên lấy áo vẫy, ra tín hiệu kêu cứu.
Thấy tàu cứu hộ đến, anh Hoàng bật khóc vì xúc động.
“Lúc đó đã quá mệt nhưng mọi người phải cố gắng hét thật to, rồi cho Cường (người nhỏ và nhẹ nhất nhóm), đứng lên bè gỗ vẫy áo, tìm sự trợ giúp, dù hi vọng rất mong manh.
May mắn thay, lúc sau thì tàu CN 09 đã phát hiện và đến cứu. Chúng tôi vô cùng biết ơn Bộ đội Biên phòng đã cứu chúng tôi thoát khỏi thần chết”, anh Chiến chia sẻ.
Khi được đưa lên tàu cứu hộ, nhóm 4 ngư dân được Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cho ăn bánh, chăm sóc y tế, phủ chăn ấm để chống rét ngay lập tức.
Hiện tại, sức khoẻ của Trần Văn Cường vẫn chưa được tốt, anh đang bị sốt cao.
Nguồn: VietnamNet

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

THƯƠNG VỤ MOBIFONE MUA AVG: ĐÂU MỚI LÀ MẤT MÁT THỰC SỰ?

THƯƠNG VỤ MOBIFONE MUA AVG: ĐÂU MỚI LÀ MẤT MÁT THỰC SỰ?
Đọc tin cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Nguyễn Bắc Son nhận hơn 66 tỷ đồng chỉ qua một dự án, thấy nặng trĩu, như vừa mất mát thứ gì đó, rất lớn lao!
Chỉ một dự án mà nhận hối lộ hơn 66 tỷ đồng, một con số khủng khiếp, nếu đem so sánh với lương nhà báo, lương giáo viên, lương công nhân và những đồng tiền còm cõi của dân nghèo chỉ có một cơ hội là bán sức lao động để sinh nhai. Khủng khiếp hơn là viết cả sách để chống diễn biến hòa bình, chống tham nhũng. Dưới trời lồng lộng, họ đã cho mình suy nghĩ thế nào khi viết ra những thứ nghĩ là có thể che được mắt thiên hạ?
Không phải truy thu bao nhiêu tỷ từ việc đưa nhận hối lộ giữa các quan chức. Chẳng phải xử lý hình sự bao nhiêu kẻ sai phạm. Cũng không phải những bản án có khung hình phạt ở mức cao nhất là tử hình mà chính là nỗi đau mất niềm tin. Không khó để thống kê các con số thất thoát, các khoản tiền khổng lồ đã “bốc hơi” theo những sai phạm tại vụ án này. Song, hậu quả của vụ án đó không chỉ là những con số trăm tỷ, ngàn tỷ đồng thống kê được, mà còn là những mất mát khó có thể đo đếm được.
Mất tiền, có thể lại có tiền. Mất cán bộ thì sẽ có cán bộ khác thay thế. Mất niềm tin là mất nhiều, rất nhiều và đôi khi mất tất cả. Đừng tưởng không đo đếm được bằng tiền thì không mất mát, xót xa. Cái đáng sợ nhất, không ít sự giả dối lại xảy ra ở những người rao giảng đạo lý, những người đứng trên bục phát biểu, chỉ đạo. Và, cái sợ khủng khiếp nhất, là nếu sự giả dối này không được ngăn chặn, nghiêm trị thì đến một lúc nào đó, ngay cả nói thật, nói rất thật, mang cả lòng dạ ra nói, người ta cũng không tin.
Đó mới là sự mất mát thực sự. Đau đớn, xót xa thật sự! Và đó mới là hậu quả thật sự mà những kẻ tham nhũng gây ra cho đất nước này!
Tham nhũng làm niềm tin xã hội suy giảm, lòng người ly tán. Nỗ lực xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, nỗ lực khởi nghiệp…. đang gặp một lực cản lớn./.
Minh Thư

THÁI LAN 0-0 VIỆT NAM

THÁI LAN 0-0 VIỆT NAM

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

LÀM GÌ TRƯỚC THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

LÀM GÌ TRƯỚC THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI


Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ số, ngày càng nhiều các phương tiện truyền thông mới ra đời và với ưu thế của nó đã mang lại nhiều ứng dụng tích cực trong đời sống xã hội. Mạng xã hội không chỉ phục vụ con người tiếp cận thông tin mà đã thực sự phá vỡ mọi khoảng cách về không gian địa lý, nhiều mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội được kết nối bất chấp các khoảng cách về không gian, thời gian.

Tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, internet trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội. Trước dòng thác khổng lồ về lượng thông tin trên mạng xã hội hiện nay, có rất nhiều thông tin tốt, bổ ích, nếu như chúng ta sử dụng mạng xã hội đúng mục đích và phù hợp sẽ là công cụ hữu hiệu để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân. Tuy nhiên, mặt trái của internet cũng đem lại những tổn hại đáng kể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bọn tội phạm công nghệ cao sử dụng mạng để thu thập các thông tin cá nhân, lừa đảo, đánh bạc qua mạng. Nhiều thông tin xấu, độc hại, giả mạo, xuyên tạc trên mạng xã hội lan truyền với tốc độ chóng mặt nhằm dắt mũi dư luận. Đơn cử như vụ việc cháu bé sáu tuổi tử vong nghi do bỏ quên trên xe xảy ra ở trường Gateway, trong lúc cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra, thu thập, củng cố chứng cứ thì một số phần tử xấu đã đưa tin tuyên truyền, phân tích nguyên nhân cái chết của cháu bé theo sự suy diễn cá nhân để hướng lái dư luận, thậm chí còn tung tin tài xế Doãn Qúy Phiến đã tử vong, ghép ảnh mặt của cháu Long vào người khác để khẳng định cháu Long đã xuống xe... Ngoài ra, còn có vô vàn các sự việc khác bị các đối tượng xấu đưa tin sai sự thật để câu “like”, kích động khiến cộng đồng mạng dậy sóng, bất an. Nguy hiểm nhất vẫn là việc không gian mạng đang trở thành môi trường lý tưởng cho các thế lực thù địch, đặc biệt là tổ chức phản động lưu vong “Việt tân”, các đối tượng cực đoan, chống đối sống lưu vong ở nước ngoài (Nguyễn Văn Đài, Bùi Thanh Hiếu…) tiến hành các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, nói xấu lãnh tụ, phủ nhận thành quả cách mạng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Những vụ việc như: Trung Quốc đưa giàn khoan Hải dương 8 vào vùng đặc quyền kinh tế biển Việt Nam, sự kiện biểu tình ở Hồng Kông (TQ), công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam… đều được “Việt tân” và các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế cho thấy đã có một số người do nhận thức còn hạn chế, nhẹ dạ, cả tin, thiếu bản lĩnh chính trị đã bị các đối tượng xấu tuyên truyền, lôi kéo, mua chuộc để thực hiện mưu đồ chính trị của chúng.

Tác hại của những thông tin xấu, độc hại trên mạng xã hội đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức đối với quần chúng nhân dân, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, nhân cách của các cá nhân và cộng đồng mạng xã hội, tác động đến An ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Để ngăn chặn, đẩy lùi các thông tin xấu, độc hại trên mạng xã hội, mong rằng các cơ quan thực thi pháp luật xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân đưa tin giả, sai sự thật hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ của công dân để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, đối với người dùng mạng xã hội hãy tỉnh táo, sàng lọc, tiếp nhận các thông tin bổ ích, đồng thời “miễn dịch” trước các thông tin độc hại, nhiễu loạn trên mạng xã hội./.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

TỪ VỤ ÁN NỮ SINH GIAO GÀ ĐẾN VỤ GATEWAY: HÃY ĐỂ SỰ THẬT LÊN TIẾNG!


Tự do ngôn luận là quyền của mỗi công dân. Tuy nhiên, tự do ngôn luận không đồng nghĩa với việc phát ngôn thiếu kiểm soát, vô trách nhiệm.

TỪ VỤ ÁN NỮ SINH GIAO GÀ ĐẾN VỤ GATEWAY: HÃY ĐỂ SỰ THẬT LÊN TIẾNG!
Trường tiểu học Gateway
Thời gian qua, chúng ta có thể thấy các “điều tra viên” mạng hoạt động rất sôi nổi. Từ vụ án nữ sinh giao gà bị sát hại tại Điện Biên xảy ra hồi đầu năm cho đến vụ án cháu Lê Hoàng Long, học sinh Trường Gateway bị tử vong diễn ra gần đây, dư luận, mạng xã hội bàn tán với muôn vàn thông tin được đưa ra. Ấy vậy nhưng, thay vì tin tưởng vào các thông tin chính thống được cung cấp bởi các cơ quan chức trách, một bộ phận không nhỏ cộng đồng mạng lại hùa theo những thông tin thất thiệt được các “điều tra viên” mạng tung lên.
Vụ án “Vô ý làm chết người” xảy ra tại trường tiểu học Gateway ngay từ khi xảy ra đã tạo sự quan tâm của dư luận. Trong khi phía cơ quan CSĐT - Công an quận Cầu Giấy và các cơ quan liên quan đang tích cực điều tra, thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu nhằm làm rõ hành vi của từng người liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật thì trên cộng đồng mạng xã hội, một sự “hỗn loạn” về thông tin cũng đang diễn ra.
Dưới vỏ bọc tự do ngôn luận, dưới danh nghĩa đấu tranh cho công lý, không ít người bằng các bài viết, bình luận, thậm chí gán ghép, đánh tráo hình ảnh đã làm nhiễu loạn thông tin, làm tổn thương đến người nhà nạn nhân. Đáng chú ý, mũi nhọn công kích của cộng đồng mạng liên tiếp hướng về phía cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là cơ quan điều tra.
Ngày 27/8/2019, cơ quan CSĐT - Công an quận Cầu Giấy đã ra quyết định khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Bích Quy, người đưa đón học sinh Trường Gateway. Ngay sau đó, trên hàng loạt trang mạng xã hội, rất nhiều “thám tử”, “điều tra viên” mạng đã lên tiếng. Trong đó, một số người đã vu khống cơ quan điều tra vi phạm tố tụng, thậm chí có người còn tung tin cơ quan điều tra tạm giam bị can là để thuận lợi cho việc bức cung, nhục hình...
Bằng những lập luận mang tính suy diễn, võ đoán của mình, người ta phủ nhận những chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập một cách khoa học đúng quy định pháp luật. Cùng với đó, một loạt “giả thuyết điều tra” cũng được các “điều tra viên” mạng vẽ ra. Nguy hiểm hơn, những “định hướng” điều tra được cộng đồng mạng vẽ ra lại đi theo hướng tấn công cơ quan chức năng, tạo ra sự hoài nghi trong xã hội. Đặc biệt, các đối tượng phản động, cơ hội chính trị cũng triệt để lợi dụng vụ án “Vô ý làm chết người” tại trường Gateway để xuyên tạc tình hình, tiến hành tuyên truyền chống phá đất nước.
Trên các trang facebook như Việt Tân, Chân trời mới Media, RFA, BBC, Người buôn gió… rất nhiều thông tin mang tính quy chụp, vu khống, xuyên tạc, bóp méo bản chất và kết quả điều tra ban đầu đã được đưa ra. Từ một vụ án hình sự, các đối tượng nhào nặn, bẻ lái theo hướng chính trị hoá. Các đối tượng đổ lỗi cho hệ thống chính trị, đổ lỗi cho chế độ, thậm chí là tô vẽ ra các “thuyết âm mưu” để gây sự hoài nghi, hoang mang trong dư luận.
Xuất phát từ các mục tiêu khác nhau, mỗi người sẽ có những quan điểm, cách nhìn nhận riêng, trong đó không loại trừ các quan điểm mâu thuẫn, trái ngược nhau do cách tiếp cận, do động cơ, ý đồ riêng.
Với cơ quan điều tra, nhiệm vụ là làm rõ nội dung vụ án, hành vi của từng cá nhân, tổ chức có liên quan để cơ quan chức năng xử lý đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật. Với những người hiếu kỳ, không hẳn có ý đồ, động cơ tiêu cực song vẫn đưa ra các quan điểm, ý kiến liên quan đến vụ án để thể hiện “trình độ”, hiểu biết của bản thân trên cộng đồng mạng.
Với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, mục tiêu chúng nhằm gây bất ổn trong xã hội, tạo sự nghi kỵ giữa quần chúng nhân dân và nhà nước, tiến hành hướng lái, tác động gây hậu quả xấu cho xã hội. Và để đạt được mục tiêu, các cá nhân, tổ chức này sẵn sàng xuyên tạc, bóp méo, bẻ lái thông tin.
Do đó, về cùng một vụ án nhưng vô số thông tin trái chiều được đưa ra. Khi mà các thông tin thật giả lẫn lộn, thiếu kiểm chứng vẫn ngày ngày xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, nếu mỗi người không tự trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng và khả năng chắt lọc thông tin thì sẽ rất dễ bị mắc vào ma trận thông tin, thậm chí là bị đối tượng xấu dắt mũi.
Trần Anh Tú

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

MÃI LÀ NGƯỜI ANH CẢ CỦA QUÂN ĐỘI, VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người cộng sản kiên trung, mẫu mực, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã về cõi vĩnh hằng, nhưng với bộ đội, dân quân tự vệ và nhân dân Việt Nam cũng như nhiều bạn bè trên thế giới, kể cả những người từng một thời là đối thủ ở bên kia chiến tuyến, Võ Nguyên Giáp - “Anh Văn” vẫn luôn được nhắc tới với sự trân trọng đặc biệt.

MÃI LÀ NGƯỜI ANH CẢ CỦA QUÂN ĐỘI, VỊ TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp không chỉ là một danh tướng, một “nhà chính trị đi trước nhà quân sự”, mà còn là một “cây đại thụ rợp bóng nhân văn”.
Ngày 22-12-1949, nhân kỷ niệm 5 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong thư, Người nêu rõ: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh Cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của Quân đội ta…”.
Năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, khi được nhà báo Pháp D.Ba-ri phỏng vấn về chiến lược của Việt Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: “Chiến lược của chúng tôi là chiến lược hòa bình. Tôi là vị tướng của hòa bình”. Còn Tướng Bi-gia, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Pháp, trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí vào cuối tháng 4-2004, đã thốt lên rằng: “Xin ngả mũ chào bái phục tướng Giáp!”.
Là một học trò xuất sắc và gần gũi của lãnh tụ Hồ Chí Minh, lại xuất thân từ một nhà giáo dạy sử, Võ Nguyên Giáp là một vị tướng hiểu rõ và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng “trọng dân”, “nước lấy dân làm gốc” của các bậc tiền nhân. Yếu tố nhân dân luôn bám rễ sâu trong tư duy quân sự của ông. Ngay trong buổi đầu thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp soạn thảo “Mười lời thề” cho đội, trong đó nhiều nội dung đều đề cập đến quan hệ quân-dân.
Là một người am hiểu lịch sử dân tộc, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hiểu rất rõ, trong dặm dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, các triều đại phong kiến Việt Nam đã không ít lần để mất nước, mà một trong những căn nguyên chủ yếu là đã để mất dân, mất làng xóm, xã tắc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thường lưu ý và nhắc nhở các mặt trận, các địa phương, thà tạm thời để mất đất, chứ nhất quyết không để mất dân. Với ông, yếu tố chính trị quần chúng là chỗ dựa không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động quân sự nào. Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có công lớn cùng tập thể Quân ủy Trung ương đưa quan hệ quân - dân trở thành một trong những nét đẹp truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như trong việc tạo dựng hình ảnh đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.
Võ Nguyên Giáp luôn ghi nhớ, noi gương và thực hiện lời căn dặn của lãnh tụ Hồ Chí Minh: Làm cách mạng là phải “dĩ công vi thượng” (tức là phải đặt lợi ích chung lên trên hết); đồng thời, ông luôn đề cao vai trò của tập thể, phục tùng tổ chức. Điển hình, tại Mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954, tuy là người chỉ huy cao nhất được Bác Hồ và Bộ Chính trị trao toàn quyền quyết định các vấn đề, nhưng trên cương vị Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận, trước khi quyết định những vấn đề hệ trọng, bao giờ Đại tướng cũng đưa ra thảo luận ở tập thể Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, tham khảo ý kiến của Đoàn cố vấn, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quyết định thay đổi phương châm tác chiến, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa thể hiện tư duy quân sự sắc sảo, bản lĩnh của người cầm quân, đồng thời cũng thể hiện việc quán triệt sâu sắc, chấp hành tuyệt đối ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đánh chắc thắng”.
Thể hiện tính nhân văn, nhân nghĩa của một vị tướng “dĩ công vi thượng”, ông luôn biết đề cao vai trò của tập thể, hết sức tôn trọng ý kiến của tập thể, vì lợi ích chung và luôn tính toán kỹ đến sự hy sinh xương máu của bộ đội. Đúng 30 năm sau sự kiện này, vào tháng 5-1984, trong buổi gặp mặt truyền thống, một số cựu cán bộ chỉ huy cho rằng: “Hồi đó mà cứ đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, không kịp thời và kiên quyết thay đổi phương châm tác chiến như Đại tướng đã làm, thì có lẽ chúng mình đã không còn có dịp hội ngộ như hôm nay”.
Võ Nguyên Giáp là một vị tướng thương yêu bộ đội hết mực, dù người đó giữ chức vụ gì, quân hàm cao hay thấp. Với cán bộ, chiến sĩ dưới quyền, ông như người cha, người anh, người đồng chí thân thiết và gần gũi. Trước nhiều trận đánh, Đại tướng đều viết thư động viên, nhắc nhở và thăm hỏi tình hình sức khỏe của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong… Trong điều kiện cực kỳ khó khăn, thiếu thốn tại chiến trường, Đại tướng vẫn thường xuyên quan tâm, nhắc nhở cơ quan hậu cần, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị chăm lo sức khỏe, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, hết lòng thương yêu bộ đội… Viên tướng Na-va, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, khi nhận xét về “quan hệ cán-binh” của Việt Minh ở Mặt trận Điện Biên Phủ từng phải thốt lên: “Đã bao lần tôi phát ghen với tướng Giáp!”.
Nhà cầm quân nào cũng khát khao chiến thắng, nhất là trong các trận đánh, chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt. Song với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không phải lúc nào cũng giành chiến thắng bằng mọi giá, mà chiến thắng đó phải luôn đi kèm với việc giảm đến mức thấp nhất hy sinh xương máu của bộ đội. Với Đại tướng, quý trọng sinh mệnh của cán bộ và chiến sĩ, suy cho cùng cũng là quý trọng sinh mệnh của người dân. Thượng tướng Trần Văn Trà từng nói: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị Tổng Tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh!”. Ngược dòng lịch sử, tại cuộc họp kiểm điểm phê bình và tự phê bình trong đợt 2 của Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng đã thẳng thắn, nghiêm khắc phê bình, đồng thời truy vấn một số cán bộ chỉ huy: “Các đồng chí có xót xa không, khi bao nhiêu đồng chí của mình ngã xuống mà trận đánh không thành công do thiếu sót của lãnh đạo và chỉ huy?”. Nói xong, ông lấy khăn lau nước mắt. Lời phê bình nghiêm khắc nhưng chân thành, thắm đượm tình cán - binh của vị chỉ huy cao nhất làm cho những cán bộ có mặt thực sự cảm thấy thấm thía, nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm to lớn của mình, nhất là phải làm thế nào để giảm thấp nhất hy sinh xương máu của bộ đội.
Đối với kẻ địch, thấu triệt tinh thần “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của các bậc tiền nhân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là một vị tướng biết đánh thắng địch bằng quân sự, mà còn biết thắng địch bằng nhân nghĩa, biết khoan dung đối với kẻ địch đã đầu hàng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người từng một thời đứng bên kia chiến tuyến, từ những tướng lĩnh của Pháp đến những người lính Âu - Phi... đều dành cho Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sự kính trọng và khâm phục đặc biệt. Tư tưởng nhân nghĩa được kết tinh từ truyền thống nhân văn trong chống giặc ngoại xâm của cha ông trên tinh thần “không vì tư thù, tư oán” được Võ Nguyên Giáp kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, sau trận mở màn chiến dịch, tiến công cụm cứ điểm Him Lam của Đại đoàn 312, thương vong của địch rất lớn, tử thương la liệt khắp trận địa. Theo đề nghị của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị cho ông Mạc Ninh thảo ngay một bức thư chuyển cho Bộ chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ đề nghị cho người ra Him Lam nhận tử thương. Ngay sau ngày chiến thắng, trên cánh đồng Mường Thanh và dọc theo bờ sông Nậm Rốm, Đại tướng cùng Bộ chỉ huy chiến dịch đã cho dựng hàng chục chiếc lều từ vải dù để cứu chữa cho tù binh, hàng binh bị thương. Một nữ tù binh sau khi được phẫu thuật cứu sống kịp thời đã thốt lên: “Cha mẹ tôi đã sinh ra tôi, nhưng chính nhân dân và quân đội Việt Nam đã thực sự cứu tôi sống lại”.
Với chính mình, cái “tôi” trong con người Võ Nguyên Giáp là cái tôi “dĩ công vi thượng”. Ông là người nghiêm khắc, nhưng khiêm tốn, bình dị, bao dung và độ lượng. Cho dù trên cương vị nào, dường như ít khi thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp cáu gắt, to tiếng với cấp dưới. Trong cuộc sống, Đại tướng thường nói về cái tốt, cái đúng của đồng chí, đồng đội, mà ít khi thấy ông thanh minh bất cứ một vấn đề nào thuộc về bản thân mình. Khi đề cập đến chiến thắng của các chiến dịch, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, bao giờ và trước hết Đại tướng cũng nói đến vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy; nhắc đến công lao, cống hiến của đồng đội, đồng chí và đồng bào cả nước…
Có lẽ, ngay từ khi dấn thân vào đời binh nghiệp, nhà giáo Võ Nguyên Giáp không hề nghĩ rằng mình sẽ “làm tướng”, cho dù năm 1948 ông đã được phong quân hàm Đại tướng. Suốt chặng đường hoạt động cách mạng, trong đó hơn một phần ba thế kỷ trực tiếp cầm quân, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn hết lòng vì công việc, tận tụy hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; luôn có tấm lòng tôn trọng, yêu thương mọi người. Cũng chính vì vậy, mặc dù Đại tướng đã mãi đi xa, nhưng trong trái tim mọi người, ông vẫn là bất tử.
Thời nào cũng vậy, phấn đấu để được “làm tướng” đã khó, giữ được đức NHÂN trong đạo làm tướng, như Bác Hồ đã dạy, càng khó hơn. Vậy nhưng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã làm được điều đó. Chất nhân văn trong con người Đại tướng cũng chính là hiện thân của tư tưởng nhân nghĩa, nhân văn trong văn hóa giữ nước của dân tộc Việt Nam được tích tụ, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử và được tỏa sáng, phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh./.
PGS, TS TRẦN NGỌC LONG
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2019

ĐỂ MỊ NÓI CHO MÀ NGHE VỀ BÁC TRỌNG

Một bài viết trên mạng xã hội với tựa đề “Ông Trọng - Ông là ai” mà nhận được đến hàng nghìn lượt “like”, hàng trăm lượt bình luận và chia sẻ. Chẳng thể hiểu nổi những con người ấy đang ở đâu, đang làm gì mà có thể tin theo những lời lẽ xuyên tạc, vu khống trắng trợn về Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng như thế.

ĐỂ MỊ NÓI CHO MÀ NGHE VỀ BÁC TRỌNG
Thông tin xuyên tạc về Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng
Cũng vẫn là vấn đề về việc Trung Quốc có những hành vi gây hấn trên biển Đông; vẫn là việc một số thành phần kích động biểu tình, gây rối… Thế nhưng, lời lẽ của bài viết được nhắc đến thì bẻ cong sự thật hoàn toàn. Họ xuyên tạc rằng từ khi bác Trọng nắm giữ chức vụ Tổng Bí thư đến nay trở thành Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thì chưa một lần lên tiếng phản đối Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Vụ cắt cáp tàu Bình Minh, vụ giàn khoan HD981, vụ Formosa, vụ Bãi Tư Chính… bác Trọng đều im lặng nhưng lại “bắt bớ” người “biểu tình chống Trung Quốc”. Họ còn cho rằng Bác Trọng “hối thúc” thông qua “Luật Đặc khu” là để “bán nước cho Trung Quốc”; “sao chép” Luật An ninh mạng từ Trung Quốc để ngăn chặn “làn sóng dân chủ”…
Bài viết nói trên hiện đang được chia sẻ liên tục trên một số diễn đàn chống đối, phản động và nhận được lượng tương tác khá cao. Đúng là môi trường mạng còn chưa được quản lý chặt chẽ và dân trí của nhiều kẻ thì thật sự “hạ đẳng”!
Cái thâm hiểm của người viết bài xuyên tạc nói trên là hướng người đọc tập trung vào việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không có những phát ngôn chính thức sau những sự kiện xảy ra tại Biển Đông. Từ cơ sở này, họ bắt đầu “thêm mắm, bỏ muối” để người đọc hiểu sai vấn đề. Nhưng, nếu tỉnh táo và chịu tư duy hợp lý, chúng ta sẽ thấy được mọi lý lẽ đưa ra đều chỉ là sự giả dối, ngu dốt.
Đi trọng tâm vào vấn đề, tại sao bác Trọng không lên tiếng trước các sự kiện xảy ra trên Biển Đông? Thực tế là không riêng gì bác Trọng mà tất cả các lãnh đạo khác của Đảng, Nhà nước đều không có phát ngôn báo chí nào. Bởi lẽ, mọi phát ngôn chính thức của Việt Nam đều thông qua Bộ Ngoại giao. Đây sẽ là những phát ngôn chính xác nhất, được tính toán chi tiết và cẩn thận để làm cơ sở truyền thông điệp cho cả quốc tế. Cần hiểu, Bộ Ngoại giao là đại diện cho tiếng nói của Nhà nước trong các quan hệ quốc tế chứ không phải bất cứ một phát ngôn báo chí hay lời nói chuyện phiếm trên mạng xã xã hội.
Cùng đó, hãy tự hỏi xem để đi đến được phát ngôn của Bộ Ngoại giao thì ai là người chỉ đạo, ai là người phê duyệt ý kiến? Tất nhiên sẽ lại là những người đứng đầu Đảng, Nhà nước mà không phải ai khác rồi. Tức là, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hay Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã phát biểu trong các cuộc họp của Đảng, Nhà nước rồi. Không hề có sự im lặng nào ở đây. Mọi thứ được thực hiện theo quy trình, theo các căn cứ pháp lý mà thế giới công nhận. Đâu phải trò trẻ con như mấy anh chị “chém gió” trên mạng xã hội thế kia.
Tiếp nữa, bác Trọng có “bắt bớ, bỏ tù” người “biểu tình chống Trung Quốc” hay không? Hoàn toàn KHÔNG! Nhìn xem, vụ việc giàn khoan HD981, vụ Formosa, vụ “Luật đặc khu”, đoàn người xuống đường tụ tập, gây rối mất trật tự rất rất nhiều. Nếu bỏ tù hết thì hỏi rằng có đủ nhà tù hay không?
Vấn đề là các cơ quan công quyền đã phân định được rõ hai thái cực: kẻ kích động gây rối và người dân lương thiện bị lừa gạt. Rõ ràng, chỉ có những kẻ gây rối, kích động đập phá cơ sở vật chất Nhà nước, chặn đường quốc lộ, gây thiệt hại cho nền kinh tế mới phải chịu hình phạt. Những người dân yêu nước khác, chỉ bị lợi dụng, không biết cách thể hiện đúng lòng yêu nước đều được giải thích, vận động cho hiểu vấn đề. Nhìn xem, lực lượng đảm bảo an ninh chỉ tự vệ trước những đợt tấn công chứ không đàn áp, đánh đập người biểu tình…
Vậy, bác Trọng hay bất cứ một cơ quan, tổ chức chính quyền nào cũng đều không bắt bớ, bỏ tù “người biểu tình chống Trung Quốc”. Đối tượng bị bắt, bị xử phạt đều là những kẻ vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, các vấn đề về Luật An ninh mạng, “Luật Đặc khu”… báo chí, truyền thông đã nói quá nhiều; các cấp chính quyền cũng đã giải thích rất cụ thể, hợp lý. Có lẽ sẽ chẳng cần phải giải thích lại nữa. Hãy tự tìm đọc để biết, để hiểu cho chính các bạn.

Để Mị nói cho mà nghe

Sau tất cả, có còn ai hiểu sai, hiểu chưa đúng về Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hay không? Ai còn muốn hỏi “Ông Trọng - Ông là ai?” thì để Mị trả lời. 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người lãnh đạo quả quyết nhất, mạnh mẽ nhất trong công cuộc chống tham nhũng thời gian qua. Đừng xuyên tạc rằng đó là “xâu xé, đấu đá” nội bộ, làm gì có nội bộ nào với những kẻ quan tham? Công cuộc chống tham nhũng được toàn thể người dân ủng hộ, đồng lòng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng là người lãnh đạo Đảng, đưa ra chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân từ Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá XII). Từ đó, kinh tế Việt Nam bắt đầu có những bước ngoặt lớn. Và ngày hôm nay, chúng ta có những doanh nghiệp Việt đang vươn lên mạnh mẽ, sản xuất ô tô, điện thoại thông minh… Chẳng còn thua thiệt với thế giới!
Thực tế hôm nay là những thành quả đất nước đạt được, là niềm vui của nhân dân. Chắc chỉ có nhân dân Việt Nam, những người yêu nước mới hiểu. Kẻ phản động chống đối vốn ngu dốt hiểu làm sao?

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

TỈNH TÁO ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC KHÔNG BỊ LỢI DỤNG

Yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Nó được hình thành, hun đúc và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành sức mạnh vô cùng to lớn để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối thông qua các chiêu trò cố tình lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân ta để thực hiện những mưu đồ đen tối.

TỈNH TÁO ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC KHÔNG BỊ LỢI DỤNG

Tổ quốc là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, truyền thống ông cha ta luôn kế truyền, phát huy đời này qua đời khác với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Việc giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ phải bằng các chủ trương, đường lối phù hợp, lấy hòa bình, ổn định làm trọng, hết sức ngăn ngừa các nguy cơ gây chiến tranh, xung đột.
Thời gian qua, những tranh chấp về chủ quyền biển đảo tại khu vực Biển Đông diễn biến phức tạp. Về phía Việt Nam, chúng ta kiên định mực tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cố tình lợi dụng vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Nhận diện những luận điệu chống phá

Gần đây, một số trang thông tin của các cá nhân, tổ chức phản động và trang báo thù địch ở nước ngoài đăng tải nhiều bài nói, bài viết, thông tin liên quan đến việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung của các bài nói, bài viết, thông tin được đưa ra lại có nhiều vấn đề sai lệch, mang tính kích động người dân.
Đích đến của các đối tượng là lợi dụng vấn đề này để làm cho tình hình trong nước trở nên rối ren, phức tạp, âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá chính quyền, thực hiện các cuộc “đấu tranh bất bạo động” theo một kịch bản có sẵn và cuối cùng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành hướng lái chính trị ở Việt Nam. Những thông tin, luận điệu nguy hiểm đang được các thế lực thù địch đưa ra trên mạng gồm:

Thứ nhất, kích động người dân tuần hành, biểu tình, tụ tập đông người gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự

Thực tế, việc kích động người dân xuống đường tụ tập, tuần hành, biểu tình không phải là vấn đề xa lại. Đây là một phần trong kịch bản “cách mạng đường phố” mà các đối tượng đang hướng đến. Dưới vỏ bọc tuần hành thể hiện tình yêu nước và bảo vệ Tổ quốc, các đối tượng rêu rao việc xuống đường đấu tranh là ôn hoà, phi bạo lực.
Tuy nhiên, đây là cái cớ để chúng thực hiện mục tiêu chống phá như ném bom xăng, tấn công trụ sở cơ quan công quyền, tấn công cảnh sát, cán bộ cơ quan Đảng, Nhà nước. Năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 vào vùng biển của Việt Nam, lợi dụng lòng yêu nước của quần chúng nhân dân, các đối tượng đã dựng lên cái gọi là “tuần hành ôn hoà” tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước.
Vậy nhưng sự “ôn hoà” lại được thể hiện bằng cách đập phá tài sản của doanh nghiệp, ném bom xăng vào trụ sở cơ quan chức năng, chống người thi hành công vụ, gây nhiều hệ lụy.
Cũng cần nhấn mạnh thêm, không chỉ riêng sự kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông mà đối với tất cả các sự kiện “nóng”, các thế lực thù đều cố tình kích động người dân xuống đường biểu tình chống đối chính quyền. Đây là một phần trong âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền qua con đường gọi là “phản kháng phi bạo lực” mà các đối tượng đang sử dụng để lừa dối người dân.

Thứ hai, xuyên tạc trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của người dân

Bảo vệ Tổ quốc là quyền và đồng thời cũng là trách nhiệm vô cùng thiêng liêng của mỗi người dân. Điều 64, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sự nghiệp của toàn dân”.
Trong đó, nòng cốt tham gia vào sự nghiệp này là lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối lại xuyên tạc rằng, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là trách nhiệm của lực lượng vũ trang, không phải là trách nhiệm của nhân dân. Bằng những lập luận vô căn cứ của mình, các đối tượng cố tình xuyên tạc trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân.
Qua các luận điệu sai lệch, các đối tượng muốn tách lực lượng vũ trang ra khỏi quần chúng nhân dân. Từ đây âm mưu của kẻ địch là khiến cho khối đoàn kết quân - dân bị lung lay, làm cho sức mạnh nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân bị suy yếu.
Cùng với đó, các đối tượng còn cổ suý, đưa luận điệu tuyên truyền “hãy để dân yêu lấy Tổ quốc mình”. Các đối tượng cho rằng, “tự người dân có thể bảo vệ Tổ quốc”, không cần sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Thông qua những luận điệu này, các đối tượng kích động, chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước, hình thành nhận thức sai lệch về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ ba, xuyên tạc chủ trương, đường lối bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Đảng, Nhà nước ta

Với những căn cứ lịch sử, pháp lý của mình, Việt Nam hoàn toàn có chủ quyền trên khu vực biển Đông. Mọi hành động tranh chấp của phía Trung Quốc đều là đơn phương và không có giá trị. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn theo dõi sát sao mọi biến động trên biển Đông và có cách ứng xử phù hợp để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, chống đối nhiều lần đưa ra các thông tin sai lệch về thực tiễn, vu khống hoạt động bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Cùng với đó, các đối tượng cũng xuyên tạc một cách trắng trợn chủ trương, đường lối, chính sách liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền trên biển Đông của Đảng, Nhà nước ta.
Nhiều đối tượng phản động, cơ hội chính trị núp dưới bóng đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, bảo vệ Tổ quốc đã thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Hệ quả là nhiều đối tượng đã bị đưa ra đứng trước vành móng ngựa, bị toà tuyên án. Tuy nhiên, với ý thức chống đối sâu sắc, các đối tượng trong tù kết hợp với các đối tượng chống đối ngoài nhà tù tiếp tục thực hiện không ít chiêu trò để đạt được mục đích chống phá Đảng, Nhà nước.

Tỉnh táo để thể hiện lòng yêu nước đúng nghĩa

Hiện nay, để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch, chống đối đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”. Trong đó, thông tin - truyền thông được các đối tượng xác định là một mũi nhọn mang tính đột phá, khiến cho nước ta suy yếu, sụp đổ từ bên trong. Trong cuộc chiến thông tin, các thế lực chống phá cố tình đưa ra các dòng thông tin lệch chuẩn.
Thủ đoạn được các đối tượng thường xuyên sử dụng là lợi dụng các sự kiện nóng, các vấn đề nhạy cảm, những nội dung được đông đảo người dân quan tâm, để từ đó viết bài có nội dung xuyên tạc, kích động sự thù hằn, chống đối.
Khi viết bài, các đối tượng cố tình “múa bút” theo hướng biến mọi thứ trở nên ly kỳ, bí hiểm để kích động sự tò mò của người dân. Các đối tượng này cũng không quên việc “phỏng vấn”, trích lời các đối tượng cơ hội chính trị, những người tự xưng là “nhà dân chủ” để tiến hành chống phá. Sau đó, qua các kênh truyền thông, blog, mạng xã hội để lan truyền những thông tin này đến với người dân. Từ đó tác động đến nhận thức, tư tưởng của mọi người.
Với phương thức, thủ đoạn như trên, các đối tượng đã lừa dối không ít người dân, biến người dân trở thành “con rối” trong cái gọi là “phản kháng phi bạo lực” mà các đối tượng đang thực hiện. Để lòng yêu nước phát huy giá trị của mình, không bị các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng vào việc gây bất lợi cho Tổ quốc, mỗi người dân phải thực sự tỉnh táo, bản lĩnh và có đủ hiểu biết để “gạn đục, khơi trong”, không mắc bẫy ma trận thông tin sai trái./.
Trần Anh Tú

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2019

UNCLOS - CƠ SỞ PHÁP LÝ QUỐC TẾ THIẾT LẬP TRẬT TỰ PHÁP LÝ TRÊN BIỂN, THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN VÀ HỢP TÁC BIỂN

Năm 2019 đánh dấu 25 năm ngày Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực và 25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS. Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển.

UNCLOS - CƠ SỞ PHÁP LÝ QUỐC TẾ THIẾT LẬP TRẬT TỰ PHÁP LÝ TRÊN BIỂN, THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN VÀ HỢP TÁC BIỂN

Năm 2019 đánh dấu 25 năm ngày Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực và 25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS.
Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển. Nghị quyết ngày 23-6-1994 của Quốc hội về việc phê chuẩn UNCLOS nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện về biển và đại dương

1. UNCLOS bao gồm các quy định toàn diện xác lập các vùng biển, điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. UNCLOS có giá trị cao hơn so với các Công ước và hiệp định/ thỏa thuận quốc tế khác, và các nguồn khác của luật quốc tế trong đó có luật tập quán quốc tế về biển.
UNCLOS nêu rõ: hiệp định/ thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên UNCLOS về bất kỳ vấn đề nào được quy định tại UNCLOS thì phải phù hợp với UNCLOS; chỉ có các quyền, nghĩa vụ hình thành từ các quy tắc của pháp luật quốc tế không trái với UNCLOS là được công nhận và áp dụng bởi toà án hay toà trọng tài có thẩm quyền theo Phần XV Công ước.
2. Việc giải thích theo hướng UNCLOS không phải là khuôn khổ pháp lý duy nhất và còn có các khuôn khổ khác như luật tập quán quốc tế hình thành trước UNCLOS điều chỉnh các vấn đề về biển là đi ngược lại với mục tiêu của UNCLOS, nhằm hạ thấp giá trị của UNCLOS. Do có tầm quan trọng chiến lược, tính thống nhất, toàn vẹn của UNCLOS cần tiếp tục được duy trì.

UNCLOS quy định rõ quy chế pháp lý của các vùng biển, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia

3. UNCLOS là cơ sở để xác lập phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia ven biển, kể cả quốc gia quần đảo (gồm nội thuỷ, vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); các vùng biển ngoài phạm vi tài phán quốc gia (gồm Biển cả hay còn gọi là biển quốc tế, Vùng đáy biển quốc tế và tài nguyên khoáng sản ở đó là di sản chung của nhân loại). UNCLOS còn quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các quốc gia.
Theo UNCLOS, mọi hoạt động liên quan đến thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển phải được phép của quốc gia đó; mọi hoạt động không được cấp phép đều là bất hợp pháp, vi phạm một cách rõ ràng các quy định của Công ước.
Điều 121 UNCLOS quy định tiêu chí xác định “đảo” là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc và luôn ở trên mặt nước khi thuỷ triều lên; các đảo có khả năng duy trì điều kiện cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng thì sẽ có đầy đủ các vùng lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như lãnh thổ đất liền. Các đá không có đáp ứng hai điều kiện nêu trên thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Các bãi cạn lúc nổi, lúc chìm nói chung không có lãnh hải riêng (và do đó cũng không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa) và sự có  mặt của chúng không ảnh hưởng đến việc xác định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục  địa.
Căn cứ quy chế đảo tại UNCLOS, trong một vụ gần đây Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS đã kết luận, không một cấu trúc địa lý nào tại quần đảo Trường Sa có khả năng tạo ra vùng biển ĐQKT, thềm lục địa; các đảo của quần đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.

UNCLOS thiết lập các cơ quan, cơ chế để bảo đảm thực thi Công ước, trong đó có cơ chế giải quyết tranh chấp về giải thích và áp dụng Công ước

4. Để bảo đảm thực thi Công ước đầy đủ và nhất quán, UNCLOS thành lập các cơ quan, cơ chế với vai trò và chức năng khác nhau, có tính chất bổ sung cho nhau. UNCLOS cũng quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trong việc giải thích và áp dụng Công ước (Phần XV), bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý. Khi có tranh chấp, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ nhanh chóng trao đổi quan điểm về giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hoặc các biện pháp hòa bình khác.
Nếu việc trao đổi, đàm phán trong một thời gian hợp lý không đạt được giải pháp, các bên có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế để có phán quyết ràng buộc, đó là Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án Luật Biển quốc tế (ITLOS - được thành lập theo Phụ lục VI của UNCLOS) hoặc Tòa trọng tài (theo Phụ lục VII UNCLOS), Tòa trọng tài đặc biệt (theo Phụ lục VIII UNCLOS). Tranh chấp nếu không được giải quyết thông qua trao đổi, đàm phán trong thời gian hợp lý thì có thể đưa ra cơ chế bắt buộc – Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS (với những điều kiện nhất định), hoặc đưa ra Uỷ ban hòa giải (được thành lập theo Phụ lục V của UNCLOS), trên cơ sở các khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải tuy không có giá trị ràng buộc pháp lý, các bên tranh chấp có nghĩa vụ phải đàm phán để đạt giải pháp giải quyết tranh chấp, và nếu không đàm phán được, các bên có nghĩa vụ giải quyết thông qua cơ quan tài phán.
Phán quyết của các cơ quan tài phán theo quy định của UNCLOS góp phần giải thích đúng đắn các quy định của UNCLOS, làm rõ một số vấn đề còn chưa rõ hoặc gây tranh cãi, hoặc yêu sách và hành động trái với quy định của UNCLOS.
Hiệu quả thực thi UNCLOS, cũng giống như việc thực thi các điều ước quốc tế khác, trên thực tế không chỉ thể hiện ở quan điểm của quốc gia tại các diễn đàn khu vực và quốc tế thảo luận về biển mà phụ thuộc vào hành động của mỗi quốc gia thành viên trong việc sử dụng biển, đại dương và các tài nguyên biển, đòi hỏi thiện chí và quan tâm đúng mức của mỗi quốc gia.
5. Là quốc gia ven biển, thành viên của UNCLOS, Việt Nam đã và đang nỗ lực kiên trì giải quyết một cách hòa bình các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS. Việt Nam đồng thời đã và đang thực thi đầy đủ UNCLOS kể từ khi chấp nhận sự ràng buộc của UNCLOS và trở thành một quốc gia thành viên của UNCLOS 25 năm trước, nỗ lực thực hiện bảo tồn biển và đại dương và các nguồn lợi biển một cách bền vững, phù hợp với các tiêu chí của Mục tiêu phát triển bền vững số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển (SDG14) thuộc Chương trình nghị sự 2030 của LHQ. Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cùng với các nước thành viên khác thúc đẩy tôn trọng UNCLOS, đồng thời bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị pháp lý của khuôn khổ pháp lý toàn cầu này. 
TS Lê Thị Tuyết Mai